• Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Với tổng S=1.500 ha, với số vốn pháp định là 400 triệu USD, gồm 3 giai đoạn:
    – Giai đoạn 1 (từ 2017 đến 2022): Xây dựng khu công nghiệp dệt nhuộm trên diện tích 519,2 ha nhằm tạo ra 1 tỉ mét vải.
    – Giai đoạn 2 (từ 2023 đến 2030): Xây dựng khu công nghiệp dệt may đa năng trên diện tích 850 ha nhằm nâng sản lượng vải lên 1,5 tỉ mét, tạo chuỗi cung ứng hoàn chỉnh.
    – Giai đoạn 3 (từ 2031 đến 2035): Tạo nền tảng vững chắc cho việc hình thành đô thị thương mại – dịch vụ dệt may thời trang trên diện tích 675 ha.

  • Phát triển khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Phát triển khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Xây dựng khu công nghiệp năng động, hiệu quả, có tầm cỡ quốc tế.
    Kết hợp với khu kinh tế biển Nam Định tạo thành cụm kinh tế phát triển phía Nam của Tỉnh và vùng duyên Hải Bắc Bộ

  • Dự án vành đai

    Dự án vành đai

    Khu công nghiệp có vị trí giáp biển, đặc biệt là tiếp giáp với khu du lịch sinh thái bãi biển Rạng Đông và Thị trấn Rạng Đông đã được quy hoạch do đó xác định yếu tố mỹ quan đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế đô thị.

  • Khu du lịch sinh thái Rạng Đông

    Khu du lịch sinh thái Rạng Đông

    Xây dựng một khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp của Việt Nam có nhiều sự khác biệt so với các khu khác để hấp dẫn du khách tới Khu du lịch sinh thái Rạng Đông tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng.
    Tạo sự giao lưu văn hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân quanh khu vực này thông qua các dịch vụ địa phương.

  • Dự án sinh thái

    Dự án sinh thái

    Khu chức năng hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác các tiềm năng ngay trong giai đoạn đầu, ưu tiên công nghiệp dệt may, tạo động lực và cơ hội phát triển năng động bền vững trong tương lai.

Mô hình định giá mới làm cho việc giải quyết tồn kho bông dự trữ càng thị trường hóa hơn

 

Việc giải quyết lượng hàng tồn kho theo kiểu của Trung Quốc đã chính thức bắt đầu kể từ tháng 5/2016. Mô hình định giá mới làm cho việc giải quyết tồn kho bông dự trữ càng thị trường hóa hơn, và làm cho chi phí sử dụng bông trong nước Trung Quốc tiệm cận với chi phí bông quốc tế

một cách nhanh chóng hơn, bức rào cản về chi phí đã vây hãm và gây nhiễu các DN dệt sợi trong nước 4 năm nay đã bị phá vỡ. Do đó DN dệt sợi trong nước một lần nữa tràn đầy sức sống mạnh mẽ. Bài viết này tập trung về vấn đề giải quyết lượng hàng tồn kho dẫn đến sự cạnh tranh giữa sợi bông Trung Quốc và nước ngoài, phân tích chuyên sâu về tình hình cung cấp và nhu cầu bông ở Trung Quốc niên vụ này và niên vụ tiếp theo.

 

      A: Khả năng cạnh tranh của các DN Trung Quốc gia tăng đáng kể

 

Đợt bán bông dự trữ trong tháng 5/2016 đến muộn so với sự mong đợi của các DN trong nước. Không giống như những lần đấu giá trước, giá khởi điểm lần này không phải là một mức giá cố định, lấy mức giá trung bình của giá bông trong nước và quốc tế làm giá khởi điểm. Cách thức định giá theo kiểu thị trường hóa đã giúp cho chi phí sử dụng bông của các DN trong nước của Trung Quốc nhanh chóng giảm xuống đến mức tiếp cận được với giá bông thế giới, chi phí giảm xuống các DN dệt sợi trong nước Trung Quốc như được một liều thuốc trợ tim, các DN nhanh chóng khôi phục lại sức sống và lấy lại được phần nào đó thị phần trên thị trường sợi chi số vừa và thấp đã bị mất trước đây.

 

Đúc kết kinh nghiệm và bài học trong những lần đấu giá bông dự trữ trong năm 2016, việc bán bông dự trữ trong năm 2017 diễn ra bình ổn, làm nổi bật những ưu thế của thị trường hàng hóa giá cả. Có thể thấy từ tháng 3/2017 đến nay, mức chênh lệch giữa bình quân giá giao dịch thành công của bông dự trữ và giá bông quốc tế ổn định trong phạm vi ± 500 NDT/tấn, mức chênh lệch giữa chi phí sử dụng bông trong nước và nước ngoài giảm và ổn định hơn so với năm trước, đã giúp cải thiện đáng kể lợi thế cạnh tranh của các DN dệt sợi Trung Quốc.

 

Việc ngăn cản sợi nhập khẩu chiếm thêm thị trường Trung Quốc đã chín muồi, trong thời gian đấu thầu bông dự trữ hai năm trở lại đây, lượng nhập khẩu ròng của sợi bông đã giảm đáng kể. Từ tháng 9/2016 – 5/2017, lượng sợi bông nhập khẩu ròng của Trung Quốc đạt 1,2 triệu tấn, giảm 100.000 tấn, mức giảm 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

 

     B: Tiêu thụ bông trong nước xuất hiện sự tăng trưởng

 

Nếu nói chi phí bông dự trữ giảm giúp cho các DN dệt sợi Trung Quốc chiếm được một vị trí thuận lợi, thế thì việc Ấn Độ thực hiện chính sách hủy tiền mệnh giá lớn tháng 11/2016 đã làm cho tiến độ đưa bông ra thị trường chậm trễ có thể nói là do chủ quan. Những ưu thế trên làm cho khối lượng sợi bông nhập khẩu của Trung Quốc trong 9 tháng đầu của niên vụ này giảm 100.000 tấn, có nghĩa là trong trường hợp lượng tiêu thụ không giảm, nếu tính theo tỷ lệ 1,1 tấn bông để sản xuất sợi bông, tiêu thụ bông của Trung Quốc sẽ tăng 110.000 tấn.

 

Và nếu suy tính bằng cách thông qua dự báo lượng tiêu thụ của bông, lượng tiêu thụ tăng của Trung Quốc trong 9 tháng đầu của niên vụ này sẽ nhiều hơn 110.000 tấn. Từ tháng 9/2016 đến tháng 5/2017, lượng tiêu thụ bông của Trung Quốc tổng cộng đạt 6.612.300 tấn, tăng 782.300 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Vì vậy, mức tiêu thụ bông trong 9 tháng đầu của niên vụ này tăng không có nghĩa là chỉ giới hạn trong khối lượng giảm xuống của sợi bông nhập khẩu.

 

Mọi việc có quả thì ắt phải có nhân. Sản lượng vải bông của Trung Quốc từ tháng 9/2016 – 5/2017 đạt 30,149 tỷ mét, tăng 1,678 tỷ mét, tăng 5,89% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, tỷ lệ sử dụng xơ bông của Trung Quốc sau tháng 11/2016 đã có một sự cải thiện đáng kể. Trước thời gian này, tỷ lệ sử dụng xơ bông trong 3 loại xơ chính (xơ bông, xơ tổng hợp, xơ nhân tạo) giảm xuống còn khoảng 25%, nhưng tình trạng này đã đảo ngược trong tháng 12/2016, lượng xơ bông sử dụng trong ngành kéo sợi gia tăng đáng kể, tăng 8% lên 33%. Vì vậy, người viết dự báo do sản lượng vải cotton trong niên vụ 2016/17 tăng nên lượng bông tiêu thụ sẽ tăng 600.000 tấn.

 

 

     C: Nhu cầu nguyên liệu trong ngắn hạn ​​sẽ giảm, cung cầu trong trung hạn được duy trì ở mức cân bằng

 

Dựa trên những phân tích trên có thể nhận định sơ bộ mức tiêu thụ bông trong niên vụ này. Có thể nhận định lạc quan một chút, nếu khả năng cạnh tranh của sợi sản xuất trong nước của Trung Quốc so với sợi nhập khẩu trong ba tháng tới vẫn còn, tốc độ tăng trưởng của sợi bông nhập khẩu có thể được duy trì ở mức -7,7%, như vậy lượng tiêu thụ bông của Trung quốc sẽ tăng thêm khoảng 143.000 tấn. Nếu sản lượng vải bông vẫn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng ở mức 5,89%, tỷ trọng sử dụng xơ bông được duy trì ở mức 33%, thì lượng bông tiêu thụ có thể tăng đến khoảng 600.000 tấn.

 

Vì vậy, dự báo lạc quan về tiêu thụ bông của Trung Quốc trong niên vụ này có thể đạt được 8,43 triệu tấn. Từ tháng 9/2016 – 5/2017, tiêu thụ bông của Trung Quốc đã đạt 6,610 triệu tấn, vì vậy dự báo lượng bông tiêu thụ của Trung Quốc trong ba tháng tới ở mức 1,82 triệu tấn, trung bình mỗi tháng 610.000 tấn, mức tiêu thụ trung bình hàng tháng giảm 120.000 tấn so với 9 tháng đầu niên vụ.

 

Với tình hình bông dự trữ bán ra bình thường, việc cung cấp và nhu cầu bông của thị trường Trung Quốc niên vụ 2017/18 vẫn cân bằng và hơi linh hoạt.

 

     Tiêu thụ: chính sách hỗ trợ để đảm bảo nhu cầu sử dụng bông Tân Cương

 

Kể từ khi Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ban hành “Ý kiến chỉ đạo về hỗ trợ sự phát triển của ngành dệt may Tân Cương để thúc đẩy việc làm” trong năm 2015 đến nay, ngành dệt may Tân Cương phát triển nhanh chóng. Từ văn bản trên ​​cho thấy, từ năm 2015-2017 là giai đoạn đầu của sự phát triển, năng lực sản xuất sợi bông đạt 12 triệu cọc, tỷ lệ chuyển đổi tại chỗ của bông là 20%. Giai đoạn hai là từ năm 2018-2020, năng lực sản xuất sợi bông đạt 18 triệu cọc, tỷ lệ chuyển đổi tại chỗ của bông duy trì ở mức khoảng 26%, năng lực sản xuất xơ vicose kiểm soát ở mức 900.000 tấn. Đi đôi với văn bản này là chính sách hỗ trợ toàn diện của chính quyền địa phương dành cho ngành dệt may, ngoài khoản trợ cấp về: vay ưu đãi, đào tạo nhân viên, bảo hiểm xã hội, vận chuyển, khi mức chênh lệch giữa giá bông trong nước và nhập khẩu quá lớn thì các DN dệt sợi ở Tân Cương sử dụng bông Tân Cương sẽ được trợ cấp khoảng 800 NDT/tấn bông.

 

Tỷ lệ chuyển đổi tại chỗ của bông Tân Cương hiện nay khoảng 25%, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu trong giai đoạn thứ hai. Với sự hỗ trợ của các chính sách có liên quan, lợi thế cạnh tranh và lợi nhuận của ngành dệt sợi bông Tân Cương sẽ được sự đảm bảo rất lớn, vì vậy chúng tôi dự báo là nhu cầu bông trong niên vụ 2017/18 của ngành dệt sợi ở Tân Cương được duy trì ở mức 1.000.000 tấn.

 

Lượng bông tiêu thụ nội địa sẽ bị suy giảm nhẹ do ảnh hưởng bởi mức chênh lệch giữa giá bông trong nước và nhập khẩu tăng. Mức chênh lệch giữa giá bông kỳ hạn dài của Trịnh Châu và ICE hiện nay đã lên đến khoảng 2.000 NDT/tấn. Với tình hình sản lượng bông vụ mới của Mỹ và Ấn Độ tăng và kịp bán ra thị trường, từ tháng 9/2017 đến tháng 2/2018, sự chênh lệch giữa giá bông cao sẽ làm suy giảm lợi thế cạnh tranh của các DN dệt sợi nội địa Trung Quốc, và do đó điều chỉnh giảm nhu cầu về bông nội địa ở mức 60.000 xuống còn 7.400.000 tấn.

 

     Về nguồn cung: diện tích trồng bông tăng nhẹ

 

Theo báo cáo diện tích trồng bông thực tế trên cả nước của Hệ thống Khảo sát và Theo dõi thị trường bông Trung Quốc đã công bố ngày 21/6/2017, diện tích trồng bông thực tế của Trung Quốc trong năm 2017 đạt 47,573 triệu mẫu, tăng 3,728 triệu mẫu so với cùng kỳ năm trước, mức tăng 8,5%, tăng 3,3% so với kết quả khảo sát dự định trồng bông của tháng 3. Trong đó, diện tích trồng bông thực tế của Tân Cương trong năm 2017 đạt 31,629 triệu mẫu, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước; của lưu vực sông Hoàng Hà tăng 8%; của lưu vực sông Dương Tử tăng 5,8%. Dự báo tổng sản lượng bông của Tân Cương sẽ đạt 4,19 triệu tấn, tổng sản lượng bông nội địa đạt 880.000 tấn, tổng sản lượng bông của cả nước Trung Quốc đạt 5,070 triệu tấn, tăng 200.000 tấn, mức tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước.

 

Đến cuối tháng 6, tình hình phát triển của cây bông ở Tân Cương nói chung khá tốt, cây cao từ 70 – 100 cm, tình hình tăng trưởng và mức độ đồng đều tốt hơn so với năm ngoái.

 

Dự báo lượng bông nhập khẩu của Trung Quốc ​​sẽ tăng, ảnh hưởng bởi mức chênh lệch giữa giá bông trong nước và nhập khẩu tăng, do đó điều chỉnh tăng lượng nhập khẩu 50.000 tấn lên 1.100.000 tấn.

 

Bông dự trữ trong niên vụ mới này vẫn là một công cụ quan trọng để điều tiết cung cầu thị trường. Sau khi việc bán bông dự trữ năm 2015 kết thúc, lượng bông dự trữ tồn kho của Trung Quốc khoảng 11 triệu tấn. Năm 2016 bán được 2,04 triệu tấn, năm 2017 dự kiến ​​sẽ bán ra 3,1 triệu tấn, trong năm 2018 dự kiến ​​sẽ bán ra 2,5 triệu tấn. Nếu không tiến hành việc mua bông vào, thì đến cuối niên vụ 2017/18, lượng bông dự trữ tồn kho của Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 3,36 triệu tấn, đến lúc đó vai trò bình ổn thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh ngành dệt sợi của bông dự trữ Trung Quốc sẽ bị suy giảm.

 

Trong bối cảnh lượng bông tồn kho của quốc tế trong niên vụ 2017/18 tăng, tồn kho của Trung Quốc giảm, khi mức chênh lệch giữa giá bông trong nước và nhập khẩu quá lớn, khả năng mua vào một phần bông nhập khẩu để bổ sung cho lượng bông dự trữ tăng, một mặt có thể làm cho mức chênh lệch giữa giá bông trong nước và nhập khẩu giảm lại, mặt khác có thể điều chỉnh cơ cấu lượng tồn kho của bông dự trữ Nhà nước. Nếu tính theo tỷ lệ không vượt quá 30% tổng khối lượng bông dự trữ bán ra niên vụ trước, hạn mức tối đa để mua bông nhập khẩu khoảng 900.000 tấn.

 

     D: Giá bông quốc tế ảnh hưởng đến cung cầu trong nước của Trung Quốc

 

Như đã đề cập ở trên, sự bình thường hóa của cơ chế bán bông dự trữ đã giúp giải quyết những mâu thuẫn giữa cung và cầu trên thị trường bông trong nước một cách hiệu quả, giúp ổn định những dự báo thị trường. Giá khởi điểm và giá bông quốc tế liên kết trực tiếp với nhau, với chiến lược lấy bất biến để ứng vạn biến này đã giúp các DN dệt sợi trong nước lấy lại lợi thế cạnh tranh, nhưng tiếp cận với thị trường bông trong nước hoàn toàn cân bằng thì rất khó thúc đẩy sự biến động về giá cả. Vì vậy, người viết tin rằng, giá bông trong nước của niên vụ này và niên vụ tiếp theo sẽ lấy giá bông quốc tế làm neo, thông qua sự dao động của mức chênh lệch giá tác động đến lợi thế cạnh tranh của các DN dệt sợi trong nước, từ đó ảnh hưởng đến cung cầu trong nước của Trung quốc.

 

Kết cấu cung cầu vẫn còn linh hoạt, về mặt cơ bản khó được cải thiện

 

Diện tích trồng bông ở các khu vực trồng bông chính tại Bắc bán cầu trong năm 2017 đã tăng lên đáng kể. Theo báo cáo trồng bông Mỹ của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố ngày 30/6 cho thấy, diện tích trồng bông thực tế của Mỹ trong năm 2017 là 12,055 triệu mẫu Anh, tăng 1,983 triệu mẫu Anh, mức tăng 19,7% so với năm 2016, thấp hơn một chút so với dự báo trong báo cáo ý định trồng bông của tháng 3. Đến ngày 2/7, tỷ lệ đơm hoa của cây bông Mỹ trong vụ mới này đạt 45%, tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, tỷ lệ đơm hoa bình quân của 5 năm gần đây đạt 44%; tỷ lệ kết thành bông là 13%, cùng kỳ năm ngoái là 10%, tỷ lệ bình quân của 5 năm gần đây là 10%; tỷ lệ hoa kết thành bông đạt 54%, trong tuần trước đạt 57%, cùng kỳ năm ngoái đạt 56%.

 

Việc gieo trồng ở các khu vực trồng bông ở miền bắc Ấn Độ đến cuối tháng 6 cơ bản đã hoàn thành, tổng diện tích trồng bông của ba khu vực: Haryana, Rajasthan và Punjab đạt 1.374.000 ha, tăng hơn 35% so với cùng kỳ năm ngoái; việc trồng bông ở Gujarat và Madhya Pradesh bị ảnh hưởng do chưa có mưa, nhưng diện tích vẫn tăng hơn 29,5% so với cùng kỳ năm ngoái, việc trồng bông ở khu vực miền trung sẽ được đẩy nhanh tiến độ khi lượng mưa tăng lên.

 

Xét về mặt cơ bản, diện tích gieo trồng thực tế thấp hơn dự báo và tốc độ tăng trưởng giảm, có thể làm cho giá cả thị trường xuất hiện sự hồi phục sau khi phát triển quá mức, nhưng từ cơ cấu cung cầu mà nói, cung cầu bông quốc tế vẫn còn linh hoạt, về mặt cơ bản khó có thể được cải thiện.

 

     Tiến trình “Báo cáo tài chính rút gọn” của Mỹ không như dự kiến, giá cả hàng hóa trên thị trường nhìn chung tăng

 

Giá cả đa số hàng hóa Mỹ bao gồm cả dầu thô kể từ giữa tháng 6 đã ngừng giảm và có sự tăng trưởng đáng kể hơn, đằng sau việc hàng hóa tăng giá trên diện rộng là tình hình tài chính Mỹ vẫn nới lỏng sau khi Fed tăng lãi suất trong tháng 3, dự báo về tình hình căng thẳng trong lưu thông phân phối trên thị trường vào đầu năm ​​đã được khắc phục. Trong cuộc họp của FOMC vào tháng 6, Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản theo đúng kế hoạch, và dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất một lần nữa trong năm nay, tăng thêm ba lần vào năm 2018, đồng thời cũng công bố kế hoạch “Báo cáo tài chính rút gọn” và tuyên bố sẽ thực hiện trong năm nay.

 

Xét từ chi tiết kế hoạch của “Báo cáo tài chính rút gọn”, Fed vì “Báo cáo tài chính rút gọn” lần này đã giữ lại một không gian dự bị, xác định rõ việc điều chỉnh tỷ suất quỹ liên bang là biện pháp để điều tiết chính sách tiền tệ chính của nó, nếu sự điều chỉnh giảm của nền kinh tế xấu đi, Fed có thể sẽ điều chỉnh quy mô cắt giảm, thậm chí tăng quy mô mua sắm tài sản thêm nữa. Ngoài ra, cách thức tiến hành “Báo cáo tài chính rút gọn” lấy sự ổn định và thỏa đáng làm ưu tiên. Kế hoạch “Báo cáo tài chính rút gọn” lần này của Fed sử dụng cách thức an toàn là cắt giảm bị động và phẳng chủ động, lấy mức chênh lệch giữa quy mô tái đầu tư thấp hơn quy mô đáo hạn tự nhiên làm mức cắt giảm.

 

Quy mô của “Báo cáo tài chính rút gọn”, trong cuộc họp FOMC vào tháng 6 vẫn chưa đưa ra một con số cụ thể, nhưng thị trường ước tính con số cắt giảm mỗi năm có thể khoảng 400 – 500 tỷ USD. Quy mô cắt giảm này tác động đến mảng vốn đầu tư không nhiều, thị trường quan tâm đến sự ổn định của những dự báo của Fed hơn. Tuy nhiên, biên bản của cuộc họp FOMC trong tháng 6 vừa công bố cũng cho thấy, các quan chức Fed có sự bất đồng với nhau về vấn đề khi nào bắt đầu cắt giảm.

 

Sự yếu đi đối với vị thế của “Báo cáo tài chính rút gọn” và do dự trong việc quyết định bắt đầu tiến trình của Fed làm cho sự mong đợi thắt chặt tiền tệ suy yếu, toàn bộ thị trường tài chính Mỹ duy trì một trạng thái nới lỏng, tạo thành sự hỗ trợ cho giá cả tài sản của cổ phiếu, hàng hóa… Tuy nhiên, giá bông Mỹ phục hồi yếu, vì vậy về mặt cơ bản giảm vẫn là một yếu tố quan trọng để kiềm chế giá cả, nhưng cũng cần phải đặc biệt quan tâm đến xu hướng về chính sách tiền tệ của Mỹ.

 

     E: Với tình hình “loạn trong giặc ngoài’, giá bông chất lượng cao khó mà chỉ biết thân mình.

 

Bị ảnh hưởng bởi giá bông quốc tế giảm liên tục, giá khởi điểm của bông dự trữ trong tháng 6 giảm theo từng tuần, trong 4 tuần tổng cộng đã giảm 467 NDT/tấn, giá giao dịch bình quân của bông dự trữ xuất hiện xu hướng giảm. Giá giao dịch bình quân của bông dự trữ trong tuần từ ngày 26 – 30/6 là 14.666 NDT/tấn, giảm 640 NDT/tấn so với cùng kỳ trong tháng 5. Mặc dù giá giao dịch bình quân giảm liên tục, nhưng mức giá giao dịch cao nhất vẫn duy trì ở khoảng 16.300 NDT/tấn, có thể nói là phát đạt. Điều này cho thấy tâm lý lạc quan và nhu cầu mạnh mẽ đối với bông “double 28”, “double 29” của thị trường.

 

Bị ảnh hưởng bởi điều này, xu thế giá của hợp đồng CF1709 tương đối vững vàng. Do khối lượng bông kỳ hạn bán theo đơn tồn kho của bông Trịnh Châu trong niên vụ này còn khá nhiều, các chỉ tiêu chất lượng nhìn chung là phù hợp với nhu cầu thị trường, vì vậy khi giá bông hợp đồng 1709 trong tháng 6 giảm xuống còn khoảng 15.000 NDT/tấn, lợi thế về chi phí của bông kỳ hạn chất lượng cao bán theo đơn tồn kho thể hiện rõ rệt, các nhà kinh doanh và DN dệt sợi mua một số lượng lớn bông kỳ hạn chất lượng cao bán theo đơn tồn kho thông qua giá giao ngay, giá hợp đồng 1709 do đó đã được hỗ trợ.

 

 

Tuy nhiên, kể từ khi bông dự trữ được bán ra đến nay, giá sợi JC40s (sản phẩm đại diện cho những nguồn cung chất lượng cao) lại giảm liên tục, lợi nhuận kéo sợi JC40s dần dần bị giảm xuống, do chịu áp lực về chi phí nguyên liệu tăng và doanh thu sản phẩm giảm. Chỉ số lợi nhuận kéo sợi JC40s đến cuối tháng 6 đã giảm xuống bằng với sợi C32s, và lợi nhuận gia công này có thể sẽ giảm hơn nữa.

 

Xét từ giác độ các DN dệt sợi, trong tình trạng lợi nhuận giống nhau thì chi phí nguyên liệu đưa vào kéo sợi JC40s càng cao, và do đó tỷ lệ lợi nhuận sẽ càng thấp. Sức hấp dẫn của loại sợi JC40s đối với các DN dệt sợi hiện nay đã giảm đáng kể, một khi do các yếu tố như nguồn cung nguyên liệu khan hiếm… làm cho lợi nhuận kéo sợi tiếp tục giảm, các DN sẽ chủ động giảm năng lực sản xuất hoặc điều chỉnh sang chủng loại sợi khác, chọn sản xuất sợi C32s có nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào hơn.

 

 

Từ Báo cáo lượng bông tồn kho kinh doanh của Trung Quốc cho thấy, lượng bông tồn kho Tân Cương niên vụ 2016/17 đến cuối tháng 5 còn 1.049.200 tấn, trong đó 633.400 tấn nằm trong khu vực Tân Cương, 415.800 tấn trong kho nội địa, 24.000 tấn đang trên đường vận chuyển.

 

Việc bán bông dự trữ trong năm 2017 làm cho cơ cấu sử dụng bông của các DN nội địa có sự thay đổi lớn, trong đó lượng sử dụng của bông dự trữ tăng, bông Tân Cương niên vụ 2016/17 giảm. Tháng 4 năm 2017, với lượng bông dự trữ đã đấu giá trước đây lần lượt được chuyển đến nhà máy, lượng sử dụng bông Tân Cương niên vụ 2016/17 của các DN dệt sợi nội địa từ 400.000 tấn/tháng đã giảm còn 155.000 tấn/tháng, tỷ lệ sử dụng giảm còn khoảng 20%.

 

Dựa trên những dự báo về lượng tiêu thụ  trong tháng 6 – 8 đã nêu ở trên, người viết dự đoán nhu cầu về bông ​​Tân Cương niên vụ 2016/17 cho đến cuối tháng 9/2017 là 808.000 – 940.000 tấn, trong đó nhu cầu của các DN ở Tân Cương là 360.000 tấn, nhu cầu của các DN nội địa là 488.000 – 620.000 tấn.

 

Nếu tính theo nhu cầu ở mức 940.000 tấn, đến cuối tháng 9/2017, lượng bông Tân Cương tồn kho niên vụ 2016/17 của Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 109.200 tấn, chỉ giảm 29.400 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Vì vậy, giá bông Tân Cương niên vụ này hoặc có thể nói là giá nguyên liệu cao cấp phát đạt, nguyên nhân không phải như dự báo của thị trường: có tồn tại khoảng thiếu hụt. Lợi nhuận kéo sợi cao hơn trước đây làm cho sự nhạy cảm với chi phí nguyên liệu của các DN dệt sợi giảm, thị trường sợi ở hạ nguồn hiện tại có xu hướng vắng lặng, lợi nhuận dệt sợi suy giảm, giá nguyên liệu cao cấp e rằng khó có thể chỉ biết thân mình.

 

Chịu sự ảnh hưởng của sản lượng vải bông và tỷ lệ sử dụng xơ bông niên vụ 2016/17 tăng, nhu cầu bông của Trung Quốc tăng đáng kể. Lợi nhuận kéo sợi vẫn ở mức cao làm cho tỷ lệ vận hành của ngành kéo sợi tiếp tục duy trì ở mức cao, và mùa vắng vẻ của ngành dệt sợi đã đến, nên lượng sợi tồn kho tăng. Người viết cho rằng, lượng sử dụng bông trong 9 tháng đầu niên vụ này đã thấu chi khối lượng tăng về nhu cầu bông trong niên vụ này, cuối niên vụ 2016/17 sẽ xuất hiện tình trạng cả lợi nhuận và sản lượng sợi cùng giảm, nhu cầu sử dụng bông cũng sẽ giảm theo.

 

Với cơ chế bán bông dự trữ bình thường hóa ở giữa kỳ, cung cầu về bông của Trung Quốc duy trì ở mức cân bằng, giá bông trong nước sẽ lấy giá bông quốc tế làm neo. Về mặt cơ bản của bông quốc tế hiện nay vẫn đang ở trong trạng thái dư dật, điều này đã tạo ra áp lực lớn hơn đối với giá bông quốc tế, nhưng quy mô của “Báo cáo tài chính rút gọn” của FED thời gian gần đây không như dự kiến, các quan chức Fed có sự tranh cãi đáng kể về thời gian khởi động “Báo cáo tài chính rút gọn”, làm cho dự báo về các thanh khoản trên thị trường vốn bớt căng thẳng. Nới lỏng tiền tệ trong thị trường tài chính khiến cho giá bông Mỹ kỳ hạn được hỗ trợ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, mặc dù FED hơi lưỡng lự về thời gian bắt đầu “Báo cáo tài chính rút gọn”, nhưng phương hướng cắt giảm sẽ không thay đổi.

 

Điều khá rõ ràng hiện giờ là mức chênh lệch giữa giá bông kỳ hạn Trịnh Châu và ICE đã tăng đến mức cao nhất trong năm nay, với tình hình cây bông ở Bắc Bán cầu bước vào giai đoạn phát triển then chốt, sự biến động trong dự báo về sản lượng bông sẽ làm cho biên độ dao động giá tăng. Các DN có thể xem xét đến việc làm khống hợp đồng CF1801, làm nhiều hợp đồng bông ICE tháng 12, tiến hành hoạt động chứng khoán.

 

Nguồn: Nhật báo Hàng kỳ hạn

ngày11/07/ 2017