• Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Với tổng S=1.500 ha, với số vốn pháp định là 400 triệu USD, gồm 3 giai đoạn:
    – Giai đoạn 1 (từ 2017 đến 2022): Xây dựng khu công nghiệp dệt nhuộm trên diện tích 519,2 ha nhằm tạo ra 1 tỉ mét vải.
    – Giai đoạn 2 (từ 2023 đến 2030): Xây dựng khu công nghiệp dệt may đa năng trên diện tích 850 ha nhằm nâng sản lượng vải lên 1,5 tỉ mét, tạo chuỗi cung ứng hoàn chỉnh.
    – Giai đoạn 3 (từ 2031 đến 2035): Tạo nền tảng vững chắc cho việc hình thành đô thị thương mại – dịch vụ dệt may thời trang trên diện tích 675 ha.

  • Phát triển khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Phát triển khu công nghiệp dệt may Rạng Đông

    Xây dựng khu công nghiệp năng động, hiệu quả, có tầm cỡ quốc tế.
    Kết hợp với khu kinh tế biển Nam Định tạo thành cụm kinh tế phát triển phía Nam của Tỉnh và vùng duyên Hải Bắc Bộ

  • Dự án vành đai

    Dự án vành đai

    Khu công nghiệp có vị trí giáp biển, đặc biệt là tiếp giáp với khu du lịch sinh thái bãi biển Rạng Đông và Thị trấn Rạng Đông đã được quy hoạch do đó xác định yếu tố mỹ quan đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế đô thị.

  • Khu du lịch sinh thái Rạng Đông

    Khu du lịch sinh thái Rạng Đông

    Xây dựng một khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp của Việt Nam có nhiều sự khác biệt so với các khu khác để hấp dẫn du khách tới Khu du lịch sinh thái Rạng Đông tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng.
    Tạo sự giao lưu văn hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân quanh khu vực này thông qua các dịch vụ địa phương.

  • Dự án sinh thái

    Dự án sinh thái

    Khu chức năng hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác các tiềm năng ngay trong giai đoạn đầu, ưu tiên công nghiệp dệt may, tạo động lực và cơ hội phát triển năng động bền vững trong tương lai.

Ngành công nghiệp dệt may của Trung Quốc duy trì sự phát triển nhanh chóng trong gần 50 năm qua, nhưng tốc độ tăng trưởng nhu cầu về bông thấp hơn so với xơ sợi hóa học và nhân tạo trong gần một thập kỷ qua, trong thành phần nguyên liệu mà ngành công nghiệp dệt may nước này sử dụng đã có những thay đổi lớn, nhất là về tỷ lệ sử dụng bông. Trong những năm đầu thập kỷ 70, nguyên liệu của ngành công nghiệp dệt may trong nước chỉ có một loại nguyên liệu duy nhất, thời kỳ này được gọi là thời đại 100% bông. Dưới sự hướng dẫn của chính sách kinh tế kế hoạch lúc bấy giờ, cung và cầu về bông cơ bản được cân bằng. Sau khi cải cách và mở cửa, Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu một số lượng lớn thiết bị hóa học, sau đó ngành công nghiệp sản xuất xơ sợi hóa học bắt đầu phát triển nhanh chóng. Theo dữ liệu của Cục Bông đay thuộc Tổng Hợp tác Xã Cung tiêu Trung Quốc và Hiệp hội Bông Trung Quốc… cho thấy, lượng xơ sợi hóa học sử dụng trong ngành dệt may trong năm 1977 chỉ có 11%, đến năm 1990 đạt 22% và nhưng đến năm 2000 đã tăng lên khoảng 38%.

 

Bước vào Thế kỷ 21, với việc Trung Quốc gia nhập WTO, nhu cầu về xuất khẩu dệt may gia tăng đáng kể, ngành công nghiệp dệt may của nước này diễn ra sự bùng nổ lần thứ hai. Trong thập kỷ đó, công nghệ pha trộn bông và polyester trong nước phát triển nhanh chóng. Bởi vì nguồn cung bông trong nước rất khó để theo kịp với nhu cầu phát triển mạnh mẽ trong đơn hàng xuất khẩu, sản xuất polyester trong nước mở ra một thời kỳ hoàng kim của sự phát triển. Cuối cùng khoảng năm 2005, việc sử dụng xơ sợi hóa học trong nước đã vượt quá bông và trở thành một “động cơ” mới cho sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may. Xét từ những quan điểm cụ thể, việc xơ sợi hóa học thay thế cho bông chủ yếu được thúc đẩy bởi hai nguyên nhân sau:

 

  1. Do yêu cầu đa dạng hóa các đặc tính của sản phẩm dệt may, dùng xơ sợi hóa học để bù đắp cho các đặc tính còn hạn chế của sản phẩm bông.

 

  1. Lợi thế về giá của xơ sợi hóa học.

 

Trước năm 2005, việc giảm tỷ lệ sử dụng bông chủ yếu là do nguyên nhân đầu tiên. Các loại xơ sợi hóa học như polyester… có các ưu điểm như: tính năng cơ học xuất sắc, chịu nhiệt được và có độ bền màu sắc, mật độ thấp, vải nhẹ, đàn hồi tốt, chống rách hỏng, tính ổn định hóa học tốt…, mặc dù không có được những đặc tính như bông về độ mềm mại, hút ẩm và thân thiện với da…, nhưng đã bù đắp được những điểm hạn chế của bông như phai màu và biến dạng. Kết quả là, sản phẩm bằng pha trộn ngày càng trở nên phổ biến và cũng được người tiêu dùng chấp nhận.

 

Nguồn: Trang mạng Bông sợi Trung Quốc

 05-6-2018